Website đang trong quá trình xây dựng và thử nghiệm

Gian nan ngày ấy…!

Thứ ba, 18/08/2015 | 11:07 GMT+7

Gian nan ngày ấy…!

Trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ không đồng đều, thậm chí nhiều người làm trái ngành trái nghề; trang thiết bị thiếu và còn thô sơ; đặc biệt là hành lang pháp lý cho việc thực hiện chế độ chính sách chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ... Những bất cập này khiến cho ngành BHXH những năm đầu mới thành lập gặp muôn vàn khó khăn.

Vừa làm vừa khắc phục…

Thế hệ những CBVC đầu tiên của cơ quan BHXH Việt Nam hầu như ai cũng nhớ cảnh cứ mỗi tháng BHXH các tỉnh, thành phố trong cả nước lại chuyển những kiện lớn hồ sơ giải quyết chế độ chính sách của NLĐ lên để BHXH Việt Nam thẩm định lại. Rồi cảnh đóng dấu giáp lai cho hàng vạn cuốn sổ BHXH, sau đó chuyển về để BHXH các địa phương lập hồ sơ tham gia BHXH cho NLĐ… Những việc ấy cứ lặp đi lặp lại nhiều lần như một quy trình bắt buộc.

Chủ tịch HĐLQ BHXH Việt Nam Hồ Tế thăm anh hùng Núp, năm 1999

Ông Nguyễn Hùng Cường- nguyên Phó Trưởng ban Thực hiện chính sách BHXH (BHXH Việt Nam) là người nắm khá kỹ những việc này. Theo ông Cường, khi đó mới chỉ có Điều lệ BHXH (ban hành kèm theo Nghị định 12/CP) nên việc thực hiện chế độ chính sách BHXH gặp khá nhiều khó khăn. Lúc bấy giờ, mọi người phải căn cứ vào thực trạng để có quyết sách xử lý bằng cách: Ban hành văn bản hướng dẫn cho các địa phương; rà soát lại những tồn tại, trên cơ sở đó đề xuất với các bộ, ngành liên quan điều chỉnh quy định; tập trung thẩm định hồ sơ của người tham gia và thụ hưởng BHXH.

Vướng nhất thời kỳ đó, theo ông Cường, chủ yếu là cách tính thời gian công tác và điều kiện nghỉ hưu đối với những trường hợp giảm tuổi do lao động nặng nhọc, độc hại mà một số đơn vị “lách” quy định; chưa áp dụng CNTT nên việc tính toán dễ bị sai… Chính vì thế, việc thẩm định hồ sơ giải quyết các chế độ do BHXH các tỉnh gửi lên chính là nhằm hạn chế sai sót; đồng thời uốn nắn, hướng dẫn nghiệp vụ cho anh em ở địa phương.

Một con số thống kê sơ bộ năm 1998 cho thấy, chỉ riêng việc quản lý đối tượng hưởng BHXH (theo danh sách từ ngành LĐ-TB&XH và LĐLĐ chuyển giao sang) đã có rất nhiều vướng mắc. Đơn cử như còn tới 65.526 người có tên trong danh sách chi trả nhưng không có hồ sơ; 66.795 người có hồ sơ nhưng không có tên trong danh sách chi trả; 54.674 hồ sơ chưa hoàn chỉnh khi bàn giao… Thực tế này đã khiến BHXH các địa phương không biết dựa vào đâu để giải quyết chế độ cho thỏa đáng, dẫn tới những bức xúc của NLĐ. Do đó, việc thẩm định lại hồ sơ trở thành một yêu cầu bắt buộc mà BHXH Việt Nam phải thực hiện.

Bên cạnh việc thẩm định hồ sơ, BHXH Việt Nam còn phải liên tục tổ chức các lớp tập huấn cho cán bộ ở BHXH các địa phương, từ nghiệp vụ giải quyết chế độ chính sách cho đến nghiệp vụ, quy trình thu, chi trả…

Ông Chu Văn Tùy- nguyên Giám đốc BHXH Hà Nội nhớ lại: Thời kỳ đầu thành lập Ngành, số lượng hồ sơ mà BHXH Hà Nội cần giải quyết rất lớn nên việc xảy ra sai sót là không tránh khỏi. Do đó, cũng như các địa phương khác, BHXH Hà Nội cũng phải chuyển lên BHXH Việt Nam thẩm định; thậm chí có những hồ sơ phải gửi sang Bộ LĐ-TB&XH để xin ý kiến về hướng giải quyết.

Cũng theo ông Tùy, có những trường hợp biết là bất cập nhưng vẫn phải giải quyết, bởi đúng với quy định hiện hành. Trong khi đó, với chức năng là cơ quan thực hiện chính sách, nên BHXH Hà Nội chỉ có thể vừa giải quyết, vừa kiến nghị để BHXH Việt Nam tổng hợp rồi sau đó kiến nghị Chính phủ và Bộ LĐ-TB&XH sửa đổi chính sách.

Hoàn thiện hành lang pháp lý

Trước những khó khăn, bất cập trên, việc hoàn thiện hành lang pháp lý để ngành BHXH thực hiện nhiệm vụ càng trở nên cấp thiết. Vì vậy, từ những vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, các ban nghiệp vụ cũng như BHXH các địa phương đã kịp thời tham mưu giúp Ngành tổng hợp, kiến nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan điều chỉnh, bổ sung cho hợp lý, qua đó giúp định hướng trong việc xây dựng Luật BHXH. 

Cán bộ BHXH huyện Tân Hưng (Long An) chi trả chế độ cho người hưởng tại nhà trong mùa lũ, năm 2000

Bên cạnh đó, BHXH Việt Nam cũng như BHXH các địa phương đã chủ động nghiên cứu, áp dụng các biện pháp để tăng hiệu quả công việc. Đơn cử như: Nghiên cứu giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH đến các DN NQD có sử dụng từ 10 lao động trở lên; tăng cường vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện. Đồng thời, chủ động xây dựng hệ thống quản lý về thu, chi, quản lý đối tượng, như: Cấp sổ BHXH cho những người tham gia BHXH; lập phiếu trung gian để quản lý chi lương hưu và trợ cấp BHXH bằng máy vi tính; ban hành nhiều văn bản, biểu mẫu báo cáo về thu, chi BHXH…

Đặc biệt, sự ra đời cuốn sổ BHXH đã có tác dụng rất lớn đối với Ngành trong việc xác định căn cứ tham gia BHXH. Thực tế, trước năm 1995 CBCNVC làm việc trong khu vực Nhà nước “mặc nhiên” được coi là có tham gia BHXH, nhưng không có bất cứ một hệ thống sổ sách nào ghi nhận thời gian tham gia BHXH nên không ai biết được mình tham gia BHXH ra sao, đã tham gia BHXH được bao lâu... Chỉ đến khi BHXH Việt Nam ra đời, Điều lệ BHXH đã quy định mọi NLĐ trong tất cả các thành phần kinh tế đều được quyền tham gia và hưởng các chế độ BHXH; đồng thời xác định rõ “NLĐ phải đóng BHXH bằng 5% tiền lương, tiền công và chủ SDLĐ phải đóng bằng 15% tổng quỹ tiền lương”. Từ đó mới hình thành nên Quỹ BHXH, cũng như hình thành khái niệm “có đóng có hưởng”, “đóng bao nhiêu hưởng bấy nhiêu”…

Hơn nữa, trong nền kinh tế thị trường, NLĐ có quyền thay đổi nơi làm việc từ DNNN sang DN liên doanh, DN 100% vốn nước ngoài hoặc DNTN. Thời gian làm việc của NLĐ có thể liên tục hoặc bị gián đoạn, nhưng đòi hỏi phải được công nhận. Do vậy, cần có một loại sổ, nói nôm na như một loại chứng từ ghi lại và xác nhận quá trình tham gia BHXH cũng như số tiền mà NLĐ và chủ SDLĐ đã đóng vào Quỹ BHXH. Đó chính là đòi hỏi bức thiết đối với ngành BHXH non trẻ phải nhanh chóng xây dựng và phát hành sổ BHXH, để lấy đó làm căn cứ tính toán quyền lợi hưởng các chế độ BHXH. Chỉ trong thời gian rất ngắn (từ đầu năm 1996 đến giữa năm 1997), hàng triệu cuốn sổ BHXH đã được phát hành và giá trị của “cuốn sổ màu xanh” đã được toàn xã hội thừa nhận, trân trọng.

Cùng với đó, BHXH Việt Nam cũng đặc biệt chú trọng nghiên cứu, hoàn thiện các phương án chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH, nhằm khắc phục tình trạng chậm trả lương hưu liên tục xảy ra trước đó. Từ việc chi trả qua đại lý, chỉ sau một thời gian ngắn, nhiều địa phương đã áp dụng thêm hình thức chi trả trực tiếp hoặc kết hợp song song cả hai mô hình chi trả phù hợp với đặc điểm của từng nơi. Đặc biệt, thời điểm đó, việc vận chuyển tiền và chi trả đều phải làm thủ công, thậm chí nhiều nơi không có két sắt để đựng tiền…, nên một số địa phương phải đề nghị công an trang bị thiết bị chuyên dụng cho cán bộ BHXH khi đi chi trả.

Ngày 26/5/1997, sau hơn 2 năm ngành BHXH được thành lập, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 15-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH. Sự kiện này được xem là dấu mốc quan trọng trong sự phát triển của Ngành, khi các cấp ủy, chính quyền tích cực vào cuộc; cũng như giúp nâng cao nhận thức của xã hội đối với chính sách BHXH. Đặc biệt, đến năm 2007, việc Luật BHXH có hiệu lực đã góp phần rất lớn trong việc đưa công tác BHXH đi vào nề nếp, là cơ sở pháp lý quan trọng để Ngành thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

Quang Vượng

Get Adobe Flash player

THE ROAD STORY VIETNAM

Báo Bảo hiểm xã hội 10 năm phát triển

Trang thông tin điện tử Báo Bảo hiểm Xã hội: Giấy phép xuất bản số 47/GP-TTĐT cấp ngày 2/10/2014 bởi Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin Điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông.
Tòa soạn: 150 Phố Vọng, Thanh Xuân, Hà Nội; Tel: (04)36281193 - 36281191 - Fax: (04) 38697886.
VPÐD tại TP.HCM: 18D Cộng Hòa, Phường 4, Quận Tân Bình; Tel, Fax: (08) 35210295.
Tổng biên tập: Nguyễn Hải Hồng
Phó Tổng biên tập: Phạm Ngọc Quốc; Bùi Đình Cự
Thư ký tòa soạn: Hoàng Công.
© Copyright 2014 http://baobaohiemxahoi.vn, All rights reserved.
® Báo BHXH giữ bản quyền nội dung trên website này, ghi rõ nguồn khi phát hành lại nội dung.